Thứ Tư, 7 tháng 11, 2012

Hồn Việt Qua THƯ PHÁP



Nói đến Thư pháp là nói đến một loại hình nghệ thuật độc đáo, hình tượng mỗi chữ viết ra nói lên được hồn người, diễn tả dụng ý của ngôn từ bằng chính chữ viết của mình, do đó, mỗi ký tự viết ra là một nét bút đặc trưng khác nhau tùy theo vị trí và dụng ý của người viết, cũng như tùy thuộc vào lời văn được viết. Do vậy làm sao mà tạo nên một phông chữ ưng ý và hoàn chỉnh thay cho cách viết thư pháp bằng bút lông được? Vì trên máy vi tính, mỗi phông chữ chỉ gói gọn trong 24 ký tự tiếng Việt mà thôi, thí dụ như chữ này vẫn dùng cho chữ â kia chẳng hạn… Tuy nhiên, với niềm đam mê và sự cố gắng hiệu chỉnh không ngừng, phông chữ tạm gọi là Thư pháp gõ theo mã tiếng Việt đã được hình thành, tuy chưa vừa ý nhưng cũng tạm đáp ứng được phần nào cho các bạn thích chơi chữ và dùng làm thiệp. Chúng tôi xin tạm gọi là chữ thư pháp thôi, vì như trên đã nói, làm sao máy tính diễn tả hồn người được?
  Chúng tôi không phải là những nhà nghiên cứu Tiếng Việt, cũng không phải là cụ đồ nho mà dám nói lên Hồn Việt qua nét chữ, chúng tôi chỉ là những người tập tành làm nghệ thuật mà thôi, đã tập tành thì chưa dám nói đến vị nghệ thuật, chứ đừng nói chi là vị nhân sinh. Nhưng đứng trước trào lưu phát triển công nghệ thông tin như hiện nay, việc ứng dụng công nghệ mới vào kho tàng nghệ thuật dân gian của Việt Nam của chúng ta cũng là việc đáng làm và đáng quan tâm, dù sao thì cũng phải có một cái gì đó nói lên Hồn người Việt của mình trên chiếc máy tính chứ! Do vậy nên tuy biết rằng mình tài hèn sức mọn, chúng tôi vẫn gắng làm, nhờ đó mà các phông chữ thư pháp ra đời.
  Tiếng Việt của chúng ta khác với các ngôn ngữ khác, vì chúng ta có dấu. Về mặt mỹ thuật thì đây cũng là một điểm để các cụ đồ thời nay trổ tài hoa mỹ khi viết dấu, tuy nhiên trong máy tính, chỉ có mỗi một cách viết cho mỗi loại ký tự hoặc dấu, nên việc diễn tả có phần hạn chế, mong người sử dụng hãy thông cảm cho vì máy tính không thể nào bằng bút lông được!
  Khác với những chữ thư pháp có trên thị trường, đó chỉ là những hình ảnh các chữ đã được viết sẵn, các phông chữ thư pháp của chúng tôi là phông chữ True Type thực sự, có kích thước file chỉ vài chục KB mà thôi, bạn có thể Add Font vào thư mục Fonts của Windows bằng cách Install new fonts, phông chữ này sẽ có mặt trong List font của Winword, Corel, Photoshop và sử dụng như những phông chữ bình thường khác. Xin lưu ý với các bạn là trong Word, các chữ thư pháp hiển thị trên trang văn bản sẽ không nhìn thấy phần chân của ký tự đối với các chữ g, y, q chẳng hạn, vì nó là dạng phông chữ nghệ thuật nên dài hơn bình thường và vì Word đã ngầm định khoảng cách trong Paragraph, nhưng khi in ra để chế bản thì hoàn toàn chính xác, xin quý vị và các bạn hãy yên tâm. Ngoài các phông chữ Thư pháp ra, chúng tôi còn dành tặng quý vị các phông chữ độc đáo và mới lạ khác mang tính thẩm mỹ không kém gì chữ thư pháp.
  Nói về Hồn Việt qua Thư pháp, chắc chắn còn rất nhiều điều để bàn, chúng tôi không dám đề cập đến nhiều vì chỉ là hậu sinh mà thôi, mong các vị tiền bối thông cảm cho, nhưng tóm lại, chúng tôi chỉ muốn tạo các phông chữ thư pháp để đem đến một chút gì đó gởi đến quý vị và các bạn cho thỏa niềm say mê mà thôi. Chắc chắn sẽ còn rất nhiều điều để nói, xin quý vị và các bạn hãy nói lên cảm nghĩ của mình bằng cách click vào mục Góp ý kiến nhận xét trên diễn đàn hoặc Click vào đây để gởi thư góp ý cùng chúng tôi. Một lần nữa, xin cám ơn quý vị và các bạn.
Ở Việt Nam thuở xưa, vào mỗi dịp Xuân về, người dân hay đến nhà những « Thầy Ðồ » hay những người « hay chữ » để xin chữ về treo như một bức tranh, vừa là món đồ trang trí nhưng cũng vừa là món ăn tinh thần. Thầy đồ hay người hay chữ cho chữ bằng cách viết một hay nhiều chữ trên một tờ giấy lớn, với nội dung mang tính cách chúc tụng hay giáo dục, nét chữ thường được khen là đẹp như rồng bay phượng múa. Lối viết như vậy được gọi là Thư Pháp (Calligraphy). Thư Pháp là phương pháp viết chữ (đẹp).
  Thư pháp là một môn nghệ thuật phát xuất từ Trung Hoa và đã được các nước Nhật, Triều Tiên, Việt Nam âm thầm chấp nhận và lặng lẽ duy trì.
  Ðối với phương Tây, thư pháp được thực hiện bằng nhiều phương tiện: bút sắt, cọ, thước, compa, êke… Con chữ được nắn nót theo chuẩn mực và tỷ lệ. Ðó là cái đẹp của các con chữ theo thị giác người sử dụng hệ chữ La Tinh.
  Ðối với người phương Ðông, nói đến môn Thư pháp, người ta thường nghĩ đến cách viết chữ Hán với phong cách đặc biệt… Với cây bút lông, mực và giấy người Trung Hoa đã đưa nghệ thuật viết chữ vươn lên đỉnh cao với lý thuyết phong phú, mang tính triết học, thiền học.
  Ở Việt-Nam vào thời điểm nầy, có lẽ ngoại trừ một số người lớn tuổi thâm Nho mới đọc được chữ Hán, chữ Nôm, còn hầu hết là không đọc được.
  Bởi vậy tại sao ta không viết thư pháp bằng tiếng Việt? Viết chữ Việt cũng đẹp vậy, bởi vì sao giải thích được: « Sao là đẹp? Sao là không đẹp? » (KTS Nguyễn Thanh Sơn)
  « Biết đâu cái gọi là đẹp đối với ta, chắc gì gọi là đẹp đối với kẻ khác !… biết đâu cái gọi là đẹp đối với ta bây giờ chắc gì gọi là đẹp đối với ta sau nầy » (Trang Tử).
Thư pháp bằng tiếng Việt
Theo các bậc khoa giáp thời xưa, việc chọn một câu văn một bài thơ để viết lên trang giấy là việc cần hết sức cẩn trọng. Vì ngoài việc thể hiện nét bút tài hoa, năng khiếu viết chữ, nội dung một bức thư pháp còn cho thấy tư tưởng, kiến thức, tâm hồn của người viết. Khi cầm bút, ngoài thể hiện những đường nét rồng bay phượng múa, các thư pháp gia còn phải “nhiếp tâm” với những gì mình sắp sửa viết ra.
  Phong trào viết Thư pháp bằng tiếng Việt đã được khôi phục một cách mạnh mẽ từ khoảng 10 năm nay tại Việt Nam, nhiều Câu Lạc Bộ viết Thư pháp được thành lập trong các thành phố lớn, đã có nhiều “Thư pháp gia” tổ chức những cuộc triển lãm thư pháp như những hoạ sĩ triển lãm tranh vẽ. Chúng tôi xin giới thiệu với quý vị và các bạn sơ lược về bộ môn này.
  Mới nhìn qua, chúng ta có thể nghĩ là bộ môn này khá dễ, muốn viết sao cũng được, miễn cho đẹp thì thôi ! Thật ra môn Thư pháp cũng có nhiều qui tắc, sau đây là vài nguyên tắc chính:
Chương pháp: tức là nghiên cứu phương pháp phân bố chữ với chữ, hàng với hàng, và các hàng với toàn bộ bức thư pháp. Một bức thư pháp thành công hay không là do ở chương pháp.
- Ðầu câu không thụt vô.
- Các hàng đều và dài bằng nhau
- Một chữ lẻ loi không đứng thành một hàng
- Khoảng trống ở hàng cuối không dài hơn phân nửa chiều dài của hàng
- Không dùng dấu chấm câu.
Hình dạng bức thư pháp: Có bốn hình dạng chính:
- Hình chữ nhật đứng (Trung đường)
- Hình chữ nhật ngang (Hoành phi)
- Hình vuông (Ðấu phương)
- Hình mặt quạt (Phiến diện) (xem các hình bên cạnh)
Ấn chương (hay con dấu, con triện) là một nét văn hóa rất độc đáo của người Trung Quốc.
Ấn chương là một yếu tố quan trọng của một bức thư pháp hay một bức họa. Ðặt đúng vị trí, ấn chương tăng thêm giá trị của tác phẩm, ngược lại sẽ làm hỏng nó. Nghiên cứu kỹ ấn chương, người ta có thể giám định một bức thư họa là chính bản hay ngụy tạo.
Nguyên tắc khắc ấn triện là khắc chìm hoặc khắc nổi:
Khắc chìm khi in ra có nét chữ trắng trên nền đậm.
Khắc nổi, khi in ra có nét chữ đậm trên nền lợt.
Loại nửa chìm nửa nổi
Vị trí đặt con dấu:
Trong các thư tác của người Trung Hoa xưa có nhiều vị trí được qui ước để đóng dấu như:
- Ðóng ở bên phải, phía trên thư tác gọi là Nhân chương
- Ðóng ở thắt lưng thư tác gọi là Yêu chương
- Ðóng ở phía dưới, bên trái thư tác gọi là Danh chương
Tùy theo thư tác có khổ lớn hay nhỏ, dài hay ngắn mà có thể đóng một, hai, hoặc ba dấu triện. Vị trí các dấu triện đều có ý nghĩa riêng của nó.
Thư pháp Việt ngữ không hoàn toàn theo qui ước đóng dấu của người Trung Hoa mà theo cách thực hành sau đây:
- Khi tác giả vừa là tác giả nội dung (Ý) vừa là tác giả hình thức (Hình); hoặc tác giả Hình nhưng Ý là các câu văn thơ cổ (hết bản quyền) thì con dấu ở vị trí dưới, phải. Hoặc có thể thêm một dấu ở trên, trái như dấu treo. Như vậy được gọi là Toàn triện.
- Khi tác giả Hình viết Ý của tác giả khác (văn, thơ…) nhưng chưa có sự đồng ý của tác giả đó thì con dấu của tác giả Hình đặt bên dưới, phải, còn bên trái ghi tên tác giả Ý và người viết phải ghi « thủ bút » hoặc « viết ». Vị trí nầy tạm gọi là Bán triện.
- Khi tác giả Hình viết Ý của tác giả khác (văn, thơ…) có sự đồng ý của tác giả Ý thì được quyền đóng dấu ở dưới, bên phải nhưng phải đề tên tác giả Ý phía trên cao, bên trái; và người viết phải ghi chữ « thủ bút » hoặc « viết ». Vị trí nầy tạm gọi là Ðồng triện.
- Trường hợp ngoại lệ: vì lý do bố cục mà người viết không thể sắp xếp được vị trí nơi đóng dấu thì được đặt dấu ở vị trí khác nhưng phải ghi rõ tác giả về Ý. Vị trí nầy tạm gọi là Ngoại triện.
Các kiểu chữ trong Thư pháp:
Trong thư pháp việt ngữ hiện nay xuất hiện 5 kiểu chữ chính:
- Chữ Chân Phương, tạm gọi là Chân Tự, là cách viết rõ ràng dễ đọc, rất giống chữ thường.
- Chữ Cách Điệu, tạm gọi là Biến Tự, là cách viết biến đổi từ chữ Chân Phương mà ra nhưng các chữ cái hơi được biến dạng một chút để tạo ra cái lối viết riêng của mình.
- Chữ Cá Biệt, tạm gọi là Cuồng Thảo, là lối viết Thư Pháp mà người phóng bút « nhiếp tâm » giữa tư tưởng và quản bút. Lối viết chữ nầy thể hiện cá tính của người viết, nhìn vào kiểu chữ nầy, người xem dễ biết tác giả mà không cần phải xem bút ký. Kiểu chữ nầy thường viết liền lạc trong một nét nên khó đọc.
- Chữ Mô Phỏng là lối viết mô phỏng dựa theo kiểu chữ của nước ngoài. Có người viết chữ Việt nhìn vào ngỡ chữ Tàu, hay chữ Ả Rập, chữ Miên, v.v…
- Chữ Mộc bản là kiểu chữ giống như chữ khắc trên mộc hoặc như kiểu thợ sắp chữ của nhà in mà khi viết thì theo một phương pháp đảo lộn, khi xem phải dùng gương phản chiếu. Nhìn vào chữ có dạng Hán-Nôm nhưng đó lại là chữ Việt viết ngược.

 
( sưu tầm )

Thứ Tư, 17 tháng 10, 2012

Thơ Thư Pháp- Thầy Cô

KÍNH DÂNG TẶNG THẦY CÔ 20/11


01.Nhất tự vi sư, bán tự vi sư

02.Tôn sư trọng đạo

03.Ân sư vĩnh ký

04.Dòng sông sâu con sào dài đo được
Lòng người đưa đò ai biết được sự bao la


05.Thời gian dẫu bạc mái đầu
Tim trò vẫn tạc đậm câu ơn thầy

06.Ơn của thầy bao la vô tận
Biển rộng sông dài có sánh được đâu

07.Chân trời góc bể có lúc tận cùng
Ơn thầy cô không bao giờ cùng tận


08.Ân truyền thụ minh tâm khắc trí
Nghĩa sinh thành tạc dạ lưu tâm


09.Mai đây trên bước đường dài
Công thành danh toại nhớ hoài ơn cô

10
Lời cô giảng dạy khuyên răn
Là hành trang của tháng năm vào đời


11.Ơn thầy vời vợi non cao
Học trò khắc cốt ghi sâu suốt đời

12.Ơn cô tô điểm vàng son
Tỏa vầng tri thức trăng tròn ước mơ

13.Người bắt cầu đưa em sang sông
Dẫu ngàn năm vẫn nhớ câu ơn người

14.Em vẫn biết đời người là hữu bạn
Nhưng lòng cô là vô hạn tình người

15.Dẫu mai đi trọn phương trời
Những lời thầy dạy đời đời khắc ghi

16.Cảm ơn thầy cho em tất cả
Người cho em cuộc sống muôn màu

17.Thầy cô luôn là ngọn đèn soi sáng
Dẫn lối em đi đến những ước mơ


18.Phượng hồng treo giữa tiếng ve
Hành trình vạn nẻo vẫn nghe lời thầy

19.Ơn truyền trao hôm nào đang còn đó
Nghĩa thầy trò muôn một vẫn còn đây

20.Bàn tay thầy mòn mỏi viên phấn trắng
Gánh tình thương rong ruổi khắp học đường

21.Thầy ơi con trẻ khắc ghi
Người hao mòn sức cũng vì chúng con

22.Thầy đã vun xới ước mơ
Con đã thực hiện giấc mơ của người

23.Âm vang lời giảng hôm nào
Ngày nay con đọng dạt dào thầy ơi

24.Thầy là người bố thứ hai
Đỡ nâng con trẻ nên tài đức nhân

25.Ơn giáo dưỡng một đời nên huệ mạng
Nghĩa ân sư muôn kiếp khó đáp đền

26.Ơn cô ươm xanh vườn trí thức
Nghĩa thầy dìu dắt đến tương lai

27.Muốn sang thì bắc cầu Kiều
Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy

28.Thầy cô luôn là điểm tựa
Để chúng em vững bước mai sau

29.Công cha nghĩa mẹ ơn thầy
Mười hai năm học đong đầy tình thương

30.Mẹ cha công đức sinh thành
Ra trường thầy dạy học hành cho hay

31.Thầy như ánh nắng lung linh
Thầy là ngọn đuốc quang minh con tầm

32.Lời cô khuyên bảo dặn dò
Chắc chiu tình mẹ chuyến đò trí nhân

33.Khôn nguôi nỗi nhớ người xưa
Sông trôi bến cũ người đưa chuyến đò

34.Ngọc bất trắc bất thành khí
Nhân bất học bất tri lý

35.Dù cho tung cánh muôn phương
Ơn thầy nghĩa bạn tình trường không quên

36.Bụi thời gian không làm mờ trang sách
Chỉ mái tóc thầy vắt điểm hoa tiêu

37.Ơn cô tô điểm vàng son
Tỏa vầng tri thức trăng tròn ước mơ

38.Em vẫn biết đời người là hữu bạn
Nhưng lòng cô là vô hạn tình thương

39.Cảm ơn thầy dạy em lẽ phải
Những điều hay trong sáng thơ ngây

40.Cám ơn thầy cho em tất cả
Thầy cho em cuộc sống muôn màu

41.Thầy cô luôn là điểm tựa
Để chúng em vững bước mai sau

42.Chùa xưa tan vào mây trắng
Ơn thầy con vẫn mang theo

43.Chữ thầy trong cõi người ta
Dặm dài hoa nắng trời xa biển đầy

44.Ơn cô tô điểm vàng son
Tỏa vầng trí tuệ trăng tròn ước mơ

45.Dù cho tung cánh muôn phương
Ơn thầy nghĩa bạn tình trường không phai

46.Thời gian dẫu bạc mái đầu
Tim trò vẫn tạc đậm câu ơn thầy

47.Con đò cũ vẫn miệt mài sớm trưa
Vượt sóng gió đưa bao dòng lữ khách

48.Thương hoài ghế gỗ bàn nâu
Ấm hơi bè bạn chụm đầu sớm trưa

49.Chiều nay nắng đọng bên đường
Ôm hoài vọng cũ vấn vương lời thầy

50.Thầy tôi vóc dáng hao gầy
Đem nguồn sinh lực truyền đầy tuổi thơ

51.Tuổi thơ con gọi thầy cô
Bạc đầu con vẫn lạy thầy thưa cô

52.Thầy trút hết tâm vầng trăng khuyết
Mong đời đầy đặn mảnh trăng non

53.Hồn quê hồn nước hồn sông núi
Dáng chữ dáng thầy dáng tương lai

54.Công cha nghĩa mẹ ơn thầy
Ba công đức ấy sánh tày biển Đông

55.Mùa thu rêu phong tường cũ
Lá me lả tả cuối thềm
Có đàn sẻ về đây ngủ
Nghe lời cô giảng dịu êm


56.Mai xa rồi ta gửi lại trường xưa
Ơn thầy cô với bao điều thầm lặng
Dẫu không nói nhưng lòng ta tự biết
Suốt cuộc đời ta nợ một niềm tin


57.Đò xưa lớp lớp muôn dòng chảy
Trò nay dâng kính vạn đóa hồng
Con đò cũ vẫn miệt mài sớm trưa
Vượt sóng gió đưa bao dòng lữ khách


58.Ơn thầy dẫn con vào rừng tri thức
Nghĩa cô dắt trò đến biển yêu thương
Người bắc cầu đưa em sang sông
Dẫu nghìn năm luôn nhớ công ơn người


59.Phượng rơi gợi nhớ những chiều
Bạn bè chung bước ôi nhiều thân thương
Ơn thầy soi lối mở đường
Trường xưa yêu dấu vấn vương bao ngày


60.Thầy là ông lái đò
Tôi là lữ khách học trò sang sông
Mai kia xoay bắc trở đông
Lòng tôi vẫn nhớ về ông lái đò


61.Cô là người gieo ánh sáng,
Cho chồi em xanh tươi
Cô là người khơi suối nước.
Cho sông em lớn trôi


62.Dẫu đếm hết sao trời đêm nay
Dẫu đếm hết lá mùa thu rơi
Nhưng ngàn năm làm sao em đếm hết
Công ơn người thầy


63.Mai xa rồi ta gởi lại trường xưa
Ơn thầy cô với bao điều thầm lặng
Dẫu không nói nhưng lòng ta tự biết
Suốt cuộc đời ta nợ một niềm tin


64.Chân trời góc biển có lúc tận cùng
Chỉ có công ơn thầy cô vô cùng tận
Khôn nguôi nỗi nhớ ngày xưa
Sông trôi bến cũ người đưa chuyến đò


65.Đường đời vạn nẻo vui buồn
Trong đầu con vẫn luôn luôn có thầy
Hình cô đậm nét tim này
Đưa con qua những chuỗi ngày khó khăn


66.Phổ biến văn chương muôn thuở ghi tâm ân giáo hóa
Lưu truyền đạo đức ngàn thu khắc cốt nghĩa khai thông

67.Con phương xa từ nửa vòng trái đất
Vẫn nặng lòng với lời giảng thầy cho
Thầy còn đó âm thầm như bến đợi
Đến giảng đường chờ đợi những đứa con xa


68.Tạ ơn thầy đã dẫn con vào rừng trí thức
Cảm nghĩa cô đã dắt trò đến biển yêu thương
Trên bục giảng cùng bảng đen phấn trắng
Mỗi thầy cô là một tấm gương soi
Phấn trắng cho em kiến thức vào đời
Bảng đen giúp em nhớ về cội nguồn cuộc sống


Những câu thơ thư pháp hay về Cha Mẹ

Những câu thơ thư pháp hay

Cha Mẹ

Nhớ Mẹ

Bao năm rồi con lưu lạc ngàn phương
Con nhớ Mẹ suốt canh trường khắc khoải,
Ơn dưỡng dục Mẹ ơi ! sao xiết kể
Công sinh thành con nghĩ quặn lòng đau.
Gốc mai già xơ xát đã từ lâu,
Chơi vơi đứng giữa trường đời gió lộng,
Dòng sông chảy ấy đời con trong mộng
Lững lờ trôi, trôi mãi đến bao giờ ?
Có những đêm con thiêm thiếp trong mơ,
Con mơ thấy hồn con về thăm Mẹ
Ðược ấp ủ trong tình thương của Mẹ,
Mãnh hồn con êm dịu biết bao nhiêu,
Bốn phương trời con tìm kiếm đã nhiều,
Nhưng không có một tình thương của Mẹ.
Vu Lan đến cõi lòng con quạnh quẽ
Bóng người xưa như phảng phất đâu đây,
Một chiều thu con dâng bát cơm đầy,
Tình nghĩa ấy Mẹ ơi ! bao thắm thía,
Phương trời này con ngậm ngùi rơi lệ,
Ðức cù lao muôn một trả chưa xong.

Con Ơi 

Con ơi suốt cả cuộc đời
Trong tim trong óc không rời bóng con
Bây giờ hết tuổi phấn son
Thì cơ thể mẹ héo hon phai tàn
Thương con như ngọc như vàng
Năm canh thổn thức muôn ngàn nhớ thương
Ðêm nào mẹ cũng thắp hương
Cầu cho con ở mọi phương an lành
Tu nhơn tích đức để dành
Khi nào mẹ phải rời cành ra đi
Con dù có gặp chuyện chi
Ơn trên phò hộ không khi nào buồn

MƯỜI THƯƠNG MẸ
Một thương chín tháng cưu mang
Hai thương chuyển dạ gian nan khôn lường
Ba thương dãi nắng dầm sương
Bốn thương hôm sớm tảo tần nuôi con
Năm thương mẹ lo vun tròn
Sáu thương mẹ dạy các con mọi điều
Bảy thương mẹ muốn con yêu, làm lành lánh dữ, trao dồi thiện tâm
Tám thương con phạm sai lầm, lòng từ của mẹ trăng rằm sáng soi
Chín thương tình mẹ biển trời
Mười thương mẹ sống trọn đời vì con

THƠ - DANH NGÔN- TỤC NGỮ

1.                  Đi khắp thế gian không ai sánh bằng mẹ
Gian khổ cuộc đời ai nặng gánh hơn cha.

2.                  Nước biển mênh mông không đong đầy tình mẹ
Mây trời lồng lộng không phủ kín công cha.

3.            Tảo tần sớm hôm mẹ nuôi con khôn lớn
Đưa tấm lưng gầy cha che chở đời
con

4.                  Hiếu:Thành kính tổ tiên ơn gia độ
Báo ân phụ mẫu nghĩa sinh thành

5.                  Tử hiếu song thân lạc
Gia hoà vạn sự thành.
(Con hiếu thảo cha mẹ vui
Nhà hoà thuận muôn việc thành)

6.                  Vời vợi non cao ơn dưỡng dục
Mênh mông biển rộng đức sinh thành.

7.                  Ơn sinh thành như đại hải
Nghĩa dưỡng dục tỷ non cao.

8.                  Ơn cha dưỡng dục dường non Thái
Nghĩa mẹ sinh thành tựa biển Đông.

9.                  Ân sâu nghĩa mẫu đông hải tựa
Sinh thành công phụ thái sơn cao.

10.              Có phải cha mẹ hứa nhau từ kiếp trước
Tạc lại hình con nguyên vẹn trái tim người.

11.              Cầu cho cha được thanh nhàn
Chúc cho mẹ được an khang tuổi già.

12.              Cha là bắt đầu cho nguồn gốc, lý tưởng và tương lai.
Mẹ là bắt đầu cho sự sống, tình yêu và hạnh phúc.

13.              Cha: có nghĩa là chỗ dựa, suốt đời con trọn vẹn yêu thương
Mẹ: có nghĩa là mãi mãi, là cho đi không đòi lại bao giờ
Con: có nghĩa là hơi ấm sưởi lòng cha mẹ lúc quạnh hiu.

14.              Cha là núi mẹ là sông
Các con hiếu thảo nhớ công sinh thành.

15.              Ai về tôi gửi buồng cau
Buồng trước kính mẹ buồng sau kính thầy.

16.              Vạn cổ tình thâm ơn cúc dục
Thiên thu nghĩa trọng đức sinh thành.

17.              Con đi xa cách muôn nơi
Công cha nghĩa mẹ đời đời không quên.

18.              Công cha ngàn đời tâm tưởng mãi
Nghĩa mẹ muôn thuở nhớ thương hoài.

19.              Công cha nghĩa mẹ ơn thầy
Ngày sau khôn lớn ơn dày biển sâu.

20.              Bàn tay nối tiếp bàn tay
Vai cha lưng mẹ cõng đầy ấm no.

21.              Đêm đêm con thắp đèn trời
Cầu cho cha mẹ sống đời với con.

22.              Ân cha mẹ là đại dương vô tận
Con chỉ là con sòng nhỏ lăn tăn.

23.              Biển Đông có lúc vơi đầy
Chứ lòng cha mẹ biển trời nào dâng.

24.              Mẹ cha gánh vác hy sinh
Mẹ cha quên cả thân mình vì con.

25.              Cha một đời oằn vai gánh nặng
Mẹ một đời đôi dép lạc bàn chân.

26.              Khi con tát cạn biển đông
Thì con mới hiểu tấm lòng mẹ cha.

27.              Có tát cạn biển đông mới tỏ tường lòng mẹ
Không trèo qua non thái sao thấu hiểu tình cha.

28.              Tiết Vu Lan bâng khuân nhớ cha, ơn dưỡng dục
Mùa báo hiếu ngùi ngùi thương mẹ, đức cù lao.

29.              Cha là hoa phấn giữa đời
Thiên thu tình mẹ rạng ngời tâm con.

30.              Ơn dưỡng dục một đời con ghi tạc
Nghĩa sinh thành trọn kiếp mãi không quên.

31.              Dù đi khắp bốn phương trời
Cong cha nghĩa mẹ không ai sánh bằng.

32.              Cha là chỗ dựa mẹ là gối êm
Nụ cười của con là niềm hạnh phúc.

33.              Trăng khuya trăng rụng xuống cầu
Vì con cha mẹ dãi dầu nắng mưa.

34.              Cha mẹ giàu con thong thả
Cha mẹ nghèo con vất vả gian nan.

35.              Cổ thụ là bóng mẹ cha
Cây non là cả vườn hoa tuổi hồng

36.              Cha là núi mẹ là sông
Các con hiếu thảo nhớ ơn sinh thành.

37.              Nghĩa mẹ như biển rộng
Công cha  như trời cao
Ơn sinh thành dưỡng dục
Vời vợi tựa trăng sao.

38.              Cha mẹ ơn sâu tựu đất trời
Nuôi con lao nhọc chẳng đầy vơi
Mở vòng tay lớn ôm con trẻ
Dẫn dắt con đi suốt cuộc đời.

39.              Ơn cha bóng núi âm thầm
Nghĩa mẹ lặng lẽ nước sông đầu nguồn
Một đời dãi nắng dầm sương
Nuôi con khôn lớn tình thương dạt dào.

MẸ
40.              Thêm một người quả đất sẽ chật thêm
Nhưng thiếu mẹ thế giới đầy nước mắt.

41.              Con dẫu lớn vẫn là con của mẹ
Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con.

42.              Dẫu con di suốt cuộc đời
Vẫn không đi hết những lời mẹ ru.
                                    Chế Lan Viên
43.              Đưa kim qua nỗi ưu phiền.
Mẹ ngồi vá lại cho nguyên sự đời.

44.              Mênh mông lòng mẹ thương ta
Xin hòa thành bản tình ca dâng đời.

45.              Hãy nói rằng con thương mẹ
Chỉ thế thôi mẹ mãn nguyện rồi.

46.              Mẹ hiển nhiên như trời đất đã thành
Như cuộc đời không thể thiếu trong con.

47.              Trong tâm tưởng con muộn màng viết
Lời cầu mong còn mẹ mãi trên đời.

48.              Đôi vai mẹ một gánh đầy huyền thoại
Tình yêu thương hào phóng đến khôn cùng.

49.              Hình hài con khi còn là hạt bụi
Lớn dần lên qua tim mẹ bao dung.

50.              Ngôn ngữ trần gian khờ dại quá
Đựng sao đầy hai tiếng: Mẹ ơi!

51.              Nhìn lên vách con bước cùng với bóng
Mẹ bây giờ mới hiểu mẹ ngày xưa.

52.              Người con yêu quý nhất đời
Chính là mẹ đó tuyệt vời tình sâu.

53.              Ngày nào con đau khổ không biết ngỏ cùng ai,
Thì con ơi! Hãy gọi mẹ đến bên con.

54.              Mẹ là hoa cỏ mùa xuân
Con như chim nhỏ hát mừng vang ca.

55.              Mẹ đi gánh nước ban mai
Gánh hai ngọn núi với hai mặt trời.

56.              Con về nhặt ánh hoàng hôn
Thắp lên nhớ mẹ bồn chồn mẹ ơi!

57.              Còn mẹ đời càng thêm tươi
Con yêu mẹ quá nụ cười bao dung.

58.              Mẹ nằm chỗ ướt canh sương
Chỗ khô lót tiếng ru nhường con thơ

59.              Con về đây quỳ bên gối mẹ
Chợt thấy mình nhỏ bé biết bao nhiêu

60.              Nuôi con thân mẹ héo gầy
Vì con mà mẹ lệ đầy viền mi.

61.              Mẹ là ngọn gió đưa êm
Mẹ là dòng suối mơ huyền bao la.

62.              Con mang thơ đi gieo khắp nẻo
Quên môi hồng mắt biếc mẹ thôi son

63.              Mênh mông bát ngát đại dương
Cũng không sánh được tình thương mẹ hiền

64.              Ngàn năm tóc mẹ còn bay
Ngàn năm tình mẹ sống đầy trong con.

65.              Bao la bóng nước biển đông
Không bằng một nửa tấm lòng mẹ tôi

66.              Nửa đời phiêu bạc tha hương
Bóng quê dáng mẹ trĩu vương tấm lòng

67.              Giơ đây trong cõi rộn ràng
Lòng con vẫn nhớ lời vàng mẹ ru.

68.              Dấu chân mẹ dãi dầm thân cát bụi
Gánh tình thương rong ruổi giữa chợ đời.

69.              Dù đi trăm suối nghìn sông
Cũng không ra khỏi tấm lòng mẹ tôi

70.              Ngàn năm hồ dễ ai thương mẹ
Như mẹ thương con giữa cuộc đời

71.              Kiếp sau xin được làm người
Để nghe non nước vọng lời mẹ ru.

72.              Mẹ: Trọn một niềm thương, cả đời dầm sương, qua bao ngày vô thường.
                                    Chẩm Hồng giang
73.              Phải đâu mẹ của riêng anh
Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thôi!

74.              Mẹ là nguồn suối yêu thương
Mẹ là quê hương con đó.

75.              Mẹ là biển cả bao la
Mẹ là câu hát chan hòa mến thương.

76.              Mẹ hiền mang nặng đẻ đau
Chỉ mong con lớn con mau nên người.

77.              Mẹ hiền như thể trăng sao
Một khi trăng lặn đất trời lung lay.

78.              Ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc
Đừng để buồn lên mắt mẹ nghe không.

79.              Con về quỳ giữa quê hương
Thầm hôn lên những bước đường mẹ qua.

80.              Cánh cò cõng nắng cõng mưa
Mẹ tôi cõng cả bốn mùa gió sương.

81.              Đừng để một ngày kia mẹ mất mới giật mình khóc lóc,
Những dòng sông trôi đi có trở lại bao giờ.

82.              Nghĩ về mẹ trời luôn tươi sắc nắng
Hoa trong vườn không nắng cũng xôn xao.

83.              Ai người chia sớt nỗi buồn
Mẹ tôi gánh mãi hoàng hôn một mình.

84.              Mẹ là đất mẹ là hoa
Mẹ là chân lý soi con sáng ngời.

85.              Mẹ ơi trời đất bao nhiêu
Tâm con hướng mẹ bao nhiêu đất trời.

86.              Mẹ là sữa ngọt quê hương
Rót vào thiên kỷ nguồn hương cho đời.

87.              Xin ấp ủ trọn đời tình mẹ
Bóng mẹ hiền giữa trái tim con.

88.              Mẹ mang một nắng hai sương
Đem ra chợ đổi làm đường con đi.

89.              Trong vũ trụ có lắm kì quan
Nhưng kì quan tuyệt vời nhất vẫn là trái tim người mẹ.

90.              Hương thơm vạn đóa hoa Hồng
Đâu bằng tình mẹ mặn nồng trong con.

91.              Hoa này tàn thì hoa khác nở
Mất mẹ rồi vạn thuở tìm đâu.

92.              Tôi không khóc khi cài hoa trắng
Vì trong hoatôi thấy mẹ cười

93.              Ngó lên ngó xuống mà vui
Ngó về quê mẹ ngậm ngùi nhớ thương.

94.              Con đi khắp vạn nẻo đường
Giờ con mới hiểu tình thương mẹ hiền.

95.              Ôm con mẹ đếm sao trời
Đếm hoài không hết một đời long đong.

96.              Võng đưa ai hát xa vời
Tưởng như thấy lại từng lời mẹ ru.

97.              Cuộc đời lắm nỗi đắng cay
Nuôi con đâu kể tháng ngày gian nan

98.              Con suốt đời là dòng sông nhỏ bé
Còn mẹ hiền là biển cả mênh mông.

99.              Nhớ đến mẹ một khung trời rộng mở
Chan chứa đầy hơi ấm của yêu thương.

100.          Mẹ vầng trăng sáng thiên thu
Soi đường con bước lãng du hải hà.

101.          Mẹ là tất cả mẹ ơi!
Trăm năm mẹ gánh đời con lưng còng.

102.          Ôi tình mẹ sao ngọt ngào đến thế
Để tràn trề sâu lắng nặng tim con.

103.          Xuân về cho nở cánh hoa
Vu lan về để nhớ ngày mẹ thương.

104.          Cảm ơn mẹ đã cho con dòng sữa
Cho niềm tin chan chứa giữa xuân đời.

105.          Hy sinh tất cả quên gian khổ
Lòng mẹ là trời vạn nhớ thương.

106.          Lời ru của mẹ thuở nào
Đưa con qua những sóng đời bể dâu.
Bảo cường
107.          Thời gian nước cuốn xuôi dòng
Lòng con nhớ mẹ như sông chảy hoài.

108.          Mẹ đừng quá nhiều thương nhớ
Kẻo tóc bạc rồi nay lại bạc thêm.

109.          Mẹ già một nắng hai sương
Trải thân làm bóng mát đường con đi.

110.          Cúi đầu mong mẹ thứ tha
Chữ hiếu chưa trả xót xa nỗi lòng
Kim Ngân
111.          Đôi vai mẹ một gánh đầy huyền thoại
Tình yêu thương rộng lớn đến khôn cùng.

112.          Nuôi con mãn kiếp quên thân xác
Ơn mẹ ngàn đời mãi vấn vương.

113.          Mẹ là ngọn gió đưa êm
Mẹ là dòng suối mơ huyền bao la.

114.          Mẹ già như chuối ba hương
Dạt dào tình mẹ niềm thương vô bờ.

115.          Vì con sống... mẹ suốt đời lam lũ
      Vì con vui... mẹ gánh hết buồn đau.

116.          Nuôi con thân mẹ héo gầy
Vì con mà mẹ lệ đầy viền mi.

117.          Mong con cuộc sống bình yên
Để mẹ lắm nỗi ưu phiền lắng sâu.

118.          Mẹ nghèo nón lá tả tơi
Mong sao con trẻ vào đời bình yên.

119.          Mẹ nghèo mưa dột mái tranh
Trải bao bất hạnh muôn phần gian truân.

120.          Nếm đủ cao lương muối vẫn hàng đầu
Đi khắp gầm trời không ai bằng mẹ.

121.          Sông quê con nước hiền hoà
Con xa lòng mẹ phong ba quê người.

122.          Bao năm gian khổ héo hon
Mẹ luôn cam chịu nuôi con nên người.
Bảo cường
123.          Trải qua thập tử nhất sinh
Mẹ già sống mãi yên bình bên con.

124.          Ngàn năm tóc mẹ còn bay
Ngàn năm tình mẹ sống đầy trong con

125.          Nhớ con tựa cửa chờ mong
Mắt mờ khô lệ mẹ trông con về.

126.          Chặng đường bao nỗi đắng cay
Nuôi con dâu kể tháng ngày gian nan

127.          Lặng nhìn sợi tóc như sương
Vướng trên đầu lược mà thương mẹ già.

128.          Lên non mới biết non cao
Nuôi con mới biết công lao mẹ hiền.

129.          Mẹ già như chuối chín cây
Gió lay mẹ rụng con phải mồ côi.

130.          Cho dù xa cách biển đông
Mênh mông tình mẹ ngát lòng đại dương.

131.          Đêm thu dưới ánh trăng vàng        
Ngóng về quê mẹ lệ tràn bờ mi.

132.          Khi con vui đất trồng hoa mới
Thì mẹ nghiêng vai gánh tết về.

133.          Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chìu.

134.          Chiều chiều chim vịt kêu chiều
Bâng khuâng nhớ mẹ chín chìu ruột đau.

135.          Mẹ là dòng sữa ngọt ngào
Là lời ru để con vào giấc mơ
Mẹ là cả một vài thơ
Là câu hát dịu ầu ơ ví dầu.

136.          Học sói trán chưa viết tròn chữ mẹ
Đi mòn chân chẳng kịp điệu ví dầu
Nụ vô thường nở ra trời dâu bể
Câu tình ca hát mãi chẳng nên lời.

137.          Nỗi niềm :
Lòng quặn lại khi nhìn con cực
Người mẹ nào tránh khởi xót xa
Nước mắt người tuôn vào lồng ngực
Nỗi niềm này ta trách chính ta.
Chúc Khả

138.          Mẹ: có nghĩa là ánh sáng
Một ngọn đèn thắp bằng máu con tim
Cái đốm lửa thiêng liêng,
Cháy trong bão bùng,
Cháy trong đêm tối.

139.          Con từ mảnh đất phù sa
Thương về quê mẹ ngôi nhà quạnh hiu
Vi vu gió thổi bao chiều
Chắt chiu dòng sữa tình yêu mẹ hiền

140.          Mẹ ơi con hiểu một điều
Khi con mất mẹ như diều đứt dây
Cuộc đời như ớt chín cây
Trái ngọt thì ít trái cay thì nhiều
Mẹ ơi con chịu bao điều
Nhưng không chịu nổi thân diều đứt dây.

141.          Xanh xanh một mảnh da trời
Đêm trăng tỏ rạng ngời dặm xa
Bao năm vắng bóng quê nhà
Bỗng nay nhớ mẹ thương cha khóc thầm.

142.          Mẹ ơi một nắng hai sương
Ru con khoan nhặt đoạn trường khúc ca
Cuối sông đầu chợ bôn ba
Nuôi con tóc bạc nếp già hằn sâu.

143.          Tấm ảnh trong tim tôi
Nhớ thuở còn nằm nôi
Mẹ ngọt ngào điệu hát
Ru hồn tôi vào đời.

144.          Đường đời còn rộng thênh thang
Mà tóc mẹ đã bạc sang trắng rồi
Mẹ đâu vẫn giữ tiếng cười
Mẹ vui vẫn để một đời nhớ thương.

145.          Mẹ ơi một nắng hai hai sương
Ru con khoan nhặt đoạn trường khúc ca
Cuối sông đầu chợ bôn ba
Nuôi con tóc bạc nếp già hằn sâu.

146.          Tóc xanh nay đổi màu sương
Nào đâu đếm được đoạn đường mẹ qua
Tàn nhan phủ kín màu da
Bước chân quên mỏi chợ xa chợ gần.

147.          Vất vả tính sương gánh chợ xa
Mẹ tôi còm cõi tấm thân già
Áo sờn tơi tả màu năm tháng
Gió đẫm mồ hôi lạnh cắt da
Bước chân bươn bả chừng run rẩy
Mấy bận đường xa đã mệt nhòa
Một bước chập chùng thêm một bước
Một đời bóng mẹ gió sương pha.

148.          Nếu có bao giờ con yêu mẹ
Hãy yêu đi khi mẹ còn đây
Còn biết được những dòng tình cảm
Ngọt nào êm dịu lẫn nồng say.

Hãy yêu đi khi mẹ còn biết
Đừng chờ đến lúc mẹ ra đi
Ghi lời yêu quý lên bia đá
Mỹ từ trên phiến đá vô tri.

Hãy nói lên điều con muốn nói
Đừng chờ đến lúc mẹ ngủ say
Một giấc ngủ không bao giờ dậy
Ngàn năm ngăn cách chẳng ngày mai.

Đó là chia ly là tử biệt
Chẳng bao giờ nghe được tiếng con
Nếu yêu mẹ dù là một chút
Hãy nói đi khi mẹ sống còn.

Nói đi con lời nào yêu dấu
Cả tấm lòng hiếu thảo của con
Để mẹ nâng niu như bảo vật
Cho tình mẫu tử thắm như son.

CHA

149.          Cha đưa cả tấm lưng gầy
Chở che con được tới ngày hôm nay.

150.          Cha là tất cả cha ơi !
Cha là hình ảnh trọn đời thiêng liêng.

151.          Cha là tất cả cha ơi !
Ngàn năm con vẫn trọn đời yêu thương.

152.          Khi con tát cạn biển đông
Thì con mới hiểu tấm lòng của cha.

153.          Cha là bầu trời, con là hạt bụi
Con lẫn vào cha từ bé đến muôn đời.

154.          Cha tôi lắm nỗi gian nan
Vì con cơ cực chẳng màng tấm thân.

155.          Cha ơi bóng cả cây cao
Chở che con những lao đao cuộc đời.

156.          Mồ hôi cha đăm đăm nhỏ giọt
Con níu giọt mồ hôi đứng dậy làm người.

157.          Cha có nghĩa là khởi đầu cho sức mạnh, ý chí và niềm tin.

158.          Cha là bóng cả ngã che con
Là cả tình thương chẳng xói mòn.

159.          Thảnh thơi Tùng Trúc xanh nguồn cuội
Mây trắng đầu non tựa dáng cha.

160.          Cha là núi con hoài xanh cỏ dại
Cha là trời cho mây trắng con bay.

161.          Cha là bóng mát giữa trời
Cha là điểm tựa bên đời của con.

162.          Công cha như núi như non
Hy sinh tất cả cho con nên người.

163.          Anh em trên dưới thuận hoà
Anh nhường em kính mẹ cha vui lòng





Thứ Ba, 18 tháng 9, 2012

Thư Pháp Là tất cả của cuộc sống tâm linh!


Thư Pháp có lẻ đã quen thuộc với người Việt Nam nói riêng và với người Trung Hoa, người Thái người Nhật, nói chung... nhưng có lẽ ít ai biết được Thư Pháp chính là tất cả của cuộc sống tâm linh bởi nó luôn chứa đựng điều mà ta tưởng chừng như thấy được nhưng chỉ khi tập trung vào thư pháp thì điều kì diệu mà thư pháp đem lại thật quý biết bao.
Một bức thư pháp bao gồm TÂM- NHẪN- NGHĨA- TÀI- ĐỨC- HIẾU- NGỘ 7 yếu tố đó sẽ tạo thành thần sắc cho tác phẩm của chúng ta, chẳng hạn như:
Một bức thư pháp nếu thiếu TÂM thì bức thư pháp đó chỉ là cái xác, không có một chút gì gọi là hồn cả
Một bức thư pháp nếu thiếu NHẪN thì nó thực sự không bao giờ toàn diện.
Thiếu TÀI, tác phẩm sẽ không bao giờ đẹp
Thiếu ĐỨC, tác phẩm không hề có ý nghĩa
Thiếu HIẾU, tác phẩm trở nên tầm thường
Thiếu NGỘ, tác phẩm của chúng ta chưa đạt tới cảnh giới gọi là đẹp
....
Vì vậy, hãy viết một tác phẩm bằng cả tâm hồn, đừng chỉ viết suông như người đang tập viết
Còn người thưởng thức, muốn thưởng thức thì phải làm sao để khi nhìn vào bức thư pháp nào, ta cũng phải thấy đẹp?
Đó là điều quan trọng, một bức thư pháp không chỉ xét về bên ngoài, mà còn xét về bên trong tác phẩm, nội dung và ý nghĩa tác phẩm, như thế mới thực sự là nhận xét 1 tác phẩm thư pháp.
Người xem tranh thư pháp cần có lòng kiên trì và hạ mình...
Không kiên trì, không bao giờ nhìn ra được vẻ đẹp của tác phẩm
Không hạ mình thì lúc nào cũng chê bai những tranh cho là xấu...
Nói chung, thư pháp rất dễ nhưng cũng rất khó, có 7 yếu tố trên và 1 niềm đam mê yêu thích thì thư pháp là một thú chơi và nơi để chúng ta rèn mình, hãy đến với thư pháp
------Xuân Thành------




( Tác giả: Xuân Thành)

Thứ Bảy, 15 tháng 9, 2012

Thư Pháp và cuộc sống


Ngày nay, khi xã hội đã và đang phát triển về nhiều mặt, thì việc thưởng thức những tác phẩm nghệ thuật cũng đang được quan tâm. Thư Pháp là một trong những bộ môn nghệ thuật được nhiều người quan tâm đến. Thư Pháp là một bộ môn nghệ thuật mang tính nhân văn. Thư pháp nói riêng và thư pháp việt nói chung, đều là những nét chữ rồng bay phượng múa... Mang đậm nét chữ dân gian, hòa quyện với tâm hồn sáng tạo của tác giả. Xem và nhận xét Thư Pháp bằng cả Tâm hồn của mình. Nếu chỉ xét ở một góc độ thì thư pháp chẳng qua chỉ là vài con chữ oằn èo, có khi nhìn còn thấy xấu. Nhưng nếu xét toàn diện mọi góc độ thì thư pháp là một kho tàng chứa đựng vẻ đẹp không kiêu sa mà đơn giản, không cầu kì phức tạp mà lại rất thanh cao... Thư Pháp còn giáo dục con người về cách sống đạo đức...những chữ Tâm; Nhẫn; Ngộ; Mộng; Trí; Nghĩa; Hiếu;.... là nội dung và thông điệp mà những bức thư pháp muốn gửi đến người xem... Với đôi tay hài hoa của các ông đồ thư pháp, việc viết thư pháp trông rất đơn giản, nhưng chỉ đơn giản với vẻ đẹp bên ngoài, nhưng cái hồn của tác phẩm thì thật khó để có thể tạo ra được... Hãy biết phát huy và gìn giữ nét đẹp của Thư Pháp.

(Xuân Thành)

Thứ Năm, 13 tháng 9, 2012

Có Hay Không Thư Pháp Chữ Việt

Thuật ngữ “thư pháp chữ Việt” ở đây nhằm chỉ nghệ thuật viết chữ quốc ngữ (ký tự Latinh) để phân biệt với thư pháp chữ Hán ở Việt Nam trước đây.


Trong những năm gần đây, một loại hình được gọi là “thư pháp chữ Việt” hoặc “thư pháp tiếng Việt” phát triển rầm rộ, trở thành một hiện tượng, bởi số đông quần chúng ngày càng có khuynh hướng thích treo chữ trong nhà mình, nhiều tranh, thiệp, quà tặng có “thư pháp chữ Việt” tiêu thụ khá mạnh vào những dịp lễ, Tết. Và xoay quanh “thư pháp chữ Việt” vẫn còn nhiều quan niệm, ý kiến khác nhau. Có người không đồng tình, có người chấp nhận ở mặt này, không tán thành ở mặt khác, chưa đi đến chỗ thống nhất. Vì vậy, trước khi tìm hiểu về “thư pháp chữ Việt”, tưởng cần đặt lại vấn đề : có hay không thư pháp chữ Việt ? Để được khách quan, xin trích lại những ý kiến chung nhất, và từ đó đưa ra kết luận.
Tổng hợp nhiều ý kiến ta thấy rằng có 3 quan điểm chính :

(1). Quan điểm không đồng tình hoặc chưa đồng tình với thư pháp chữ Việt :
Ở quan điểm này, phần lớn là những người am hiểu về Hán văn. Và thường lấy thư pháp chữ Hán làm chuẩn mực. 
 Trong bài viết “Bách thư gia chư tử Việt”, tác giả Phạm Hoàng Quân có đọan viết : “ (…) Đem đối chiếu với lịch sử thư pháp Trung Quốc thấy rõ, chúng ta đã rất thiếu qui củ  khi truyền dạy, quá nôn nóng nên bỏ qua quá trình tinh luyện ; tự tu cả về kiến thức lẫn bút pháp, các tác phẩm không có được chiều sâu tình cảm do được tạo nên bởi những đôi tay, khối óc chưa hề rung động thực sự trước nội dung mà mình thực hiện. Về hình thức diễn đạt, các “nhà thư pháp” chữ Việt hoặc lập lờ trong tình trạng nửa vẽ nửa viết hoặc cố gắng phóng to thu nhỏ các ký tự hoặc tạo sự bí hiểm để đánh đố người xem, tất cả những cách làm ấy chỉ là thủ thuật hoặc kỹ thuật, bước đường hình thành môn nghệ thuật này hãy còn xa lắm!” [69]
Bài viết “Thư pháp và tính đại chúng” của tác giả Nguyễn Xuân Tính trên báo Tiền Phong (số 32, ra ngày 8/8/2004) có viết : “ (…) Trong các cuốn từ điển phổ thông hoặc cuốn “Từ điển tiếng Việt”của nhà xuất bản Khoa học xã hội, xuất bản năm 1977 đã định nghĩa : “Thư pháp là phép viết chữ Hán”. Như vậy  là đã rõ nghĩa, đó là phương pháp, là cung cách viết chữ Hán của người Trung Quốc, chứ không phải là phép viết chữ Việt, chữ “Tây”hoặc phép viết chung cho mọi loại chữ.  (…) Bản thân chữ Việt của chúng ta là một trong những loại chữ khoa học, tiên tiến, được ghép theo vần Latinh nên không những nó khoa học hơn so với một số loại chữ của các nước trong khu vực mà còn dễ viết, dễ đọc và đẹp. Vì vậy, không nên bắt chước một cách tùy tiện. Đừng tưởng rằng như thế là nghệ thuật, là sáng tạo mà vô hình trung đã làm cho nó mất cả tính đại chúng, khiến người đọc người xem không hiểu đó là chữ hay là một mớ bòng bong!”.
Một ý kiến khác của tác giả Nguyễn Chu Nhạc thì cho rằng : “Đã có nhiều ý kiến xung quanh việc này, khen chê đủ cả. Riêng mình tôi cũng đã xem khá kỹ. Tôi hiểu các nhà thư pháp tiếng Việt nóng ruột, muốn làm một cái gì đấy vừa sáng tạo, vừa tôn vinh dân tộc. Dụng tâm thì tốt nhưng hay dở thì còn phải bàn. Thiển nghĩ, nên trao đổi việc này trên hai phương diện. Thứ nhất, nếu cho là thư pháp tiếng Việt nhằm tôn vinh văn hóa dân tộc, thì xin hỏi mẫu tự Latinh của chữ Việt hiện đại với lịch sử chỉ hơn một trăm năm, so với hai ngàn năm chữ Hán vào Việt Nam và hàng ngàn năm chữ Nôm do ông cha ta nghĩ ra, tạo nên một nền khoa bảng rực rỡ cùng cả kho tàng khổng lồ lịch sử văn hoá bằng văn tự Hán Nôm kia, thứ nào dân tộc hơn? Thứ nữa, về phương diện hình họa, chữ Hán là thứ chữ khởi nguồn tượng hình, đa dạng và kỳ thú vô cùng, viết mà như họa, họa cũng có thể như viết, thế nên mới có nghệ thuật thư pháp, thư họa; còn mẫu tự Latinh chỉ là các ký tự âm thanh, chính vì thế người phương Tây đâu có thư pháp (bây giờ vi tính có thể thực hiện được nhiều mẫu tự Latinh, song đâu phải là thư pháp?). Với những lẽ ấy, thư pháp tiếng Việt mà một số người chủ trương là thiếu cơ sở, nên thiếu sức sống….”
Qua đó, ta thấy nổi bật hai vấn đề: 
Thứ nhất, các tác giả thường dựa vào thư pháp chữ Hán để bàn về thư pháp chữ Việt (như dựa vào định nghĩa, dựa vào tính tượng hình của chữ Hán) 
Thứ hai, do tác động từ những bức “thư pháp chữ Việt” kém “chất lượng”, mang tính thị trường đã ảnh hưởng xấu đến ý nghĩ của công chúng. (viết xấu, khó đọc, là một mớ bòng bong!)
Thiết nghĩ, đây là những ý kiến phê bình, đóng góp quý báu, rất cần cho “thư pháp chữ Việt”, nếu muốn tiến xa hơn nữa.

(2) Quan điểm chấp nhận và ủng hộ thư pháp chữ Việt
Nhìn chung, ở quan điểm này, chiếm số đông so với những người không chấp nhận “thư pháp chữ Việt”
Nhà văn Nguyễn Quang Hà trong bài viết “Mùa xuân chơi thư pháp” có ý kiến cổ vũ, ủng hộ cho thư pháp Việt : “(…) Rất may cho thư pháp chữ Việt được quần chúng đồng tình, cổ vũ, yêu thích, đó là lời động viên mạnh mẽ không gì bằng. Cũng rất cần có các nhà thư pháp chữ Việt tiêu biểu để hướng tới và từ đó có lý luận vững vàng. Trước mắt chúng ta, thư pháp chữ Việt mới hình thành các câu lạc bộ, bao giờ có Viện đây ? Điều đó đòi hỏi các nhà thư pháp Việt Nam phải nỗ lực phi thường.”. Và ông cũng đã hỏi nhà thơ, nhà thư pháp Trụ Vũ: “Chữ Trung Quốc có các nét chính : chấm, phẩy, vạch ngang, sổ dọc, hất lên, quai xước. Mỗi nét đã có chuẩn mực có hình tượng, bản thân mỗi chữ Nho ấy đã là một bức tranh. Chữ Việt thì sao? ”. Trụ Vũ đáp: “ Viết thư pháp là thể hiện cái hồn của mình. Có câu : “nhìn chữ biết người” là vậy. Chữ Việt đâu thiếu đường nét ấy. Chẳng qua họ quá quen với chữ Nho, nên nghi ngại thư pháp chữ Việt. Này nhé, xưa thời cổ trung đại của Trung Quốc, bấy giờ mới có tranh thủy mặc. Từ đó đến nay mới có thể kể đến tranh màu nước, tranh sơn dầu, tranh lập thể, tranh trừu tượng. Các loại tranh đó đều được yêu mến, trân trọng và đặt cho một cái tên rất đỗi tự hào : Hội họa hiện đại. Rõ ràng, không kể loại hình mà phải kể tới tâm hồn người nghệ sĩ. Vậy thì chữ Nho cứ cho là một loại tranh, chữ Việt sao không thể coi là một loại tranh được. Điều cốt yếu của thư pháp như tôi nói đó, là cái thần diệu nơi tâm hồn mình.” [66]
Một ý kiến khác của họa sĩ người Hoa, Lý Khắc Nhu: “ Với người Hoa thì thư pháp được đào tạo rất căn bản. Trước tiên là lối viết Chính thư (từng nét một), rồi đến Hành thư (lướt nhanh), sau là Hành thảo (phóng túng). Khi đạt đến Cuồng thư thì chẳng khác nào một người điên đang múa bút. Tôi chưa từng viết thư pháp chữ Việt, nhưng ở CLB Q.5 (Tp. Hồ Chí Minh) do tôi làm chủ nhiệm có nhiều nhà thư họa chữ Việt. Tôi nghĩ, đó cũng là một nét đẹp – một cái hay của văn hóa Việt cũng như góp phần làm phong phú thêm nghệ thuật thư pháp.”[60]
Tác giả Lê Xuân Mậu trong bài viết “Ngày xuân nói chuyện chơi chữ” có viết (báo Giáo dục, xuân 2003): “Chữ Hán tượng hình có ưu thế trong việc “vẽ”õ chữ. Còn chữ Quốc ngữ ? Cái thứ chữ ghi âm ghép các con chữ theo một chiều ngang xuôi cố định khó có thể tạo hình. Cũng có thể nghĩ rằng nó không phải là thứ chữ của Thánh hiền nên không linh thiêng, không đáp ứng nhu cầu chơi chữ có sắc màu tâm linh ? Rất có thể đó là một lý do có tính tập tục ! Chỉ biết rằng nhiều hình thức trình bày cân đối chữ Quốc ngữ cũng khá sáng tạo. Gần đây đã có những thí nghiệm thư họa chữ Quốc ngữ ít nhiều được ngợi khen. Đó là những bức vẽ chữ – vẽ thực sự….”

(3). Ngoài ra, còn có quan điểm: không nhất thiết bàn về thuật ngữ, tên gọi “thư pháp chữ Việt” 
Nhà nghiên cứu Lê Anh Dũng cho rằng: “ Người khổ luyện thực hành thư pháp có thể dùng cái đẹp của chữ và mực để rèn giũa tâm hồn đã đành, mà người chơi thư pháp cũng có thể mượn nét bút tài hoa của người khác để trau dồi đời sống tinh thần. Với chủ định này, giờ đây chữ Hán, chữ Việt hay là tiếng Pháp, tiếng Anh chi chi chăng nữa cũng chẳng cón ngăn ngại, miễn sao thực tâm thích cái đẹp của tấm chữ để rồi chọn treo nơi nào mình hay chạm mắt tới. Ngày ngày ra vào thấy chữ làm ngắm nghía trầm ngâm, ngẫm nghĩ răn lòng…”.[47:121]
Theo  PGS TS. Nguyễn Thị Thu Lương thì không cần đặt vấn đề về tên gọi, hay thuật ngữ “thư pháp chữ Việt”, “tranh chữ Việt”, mà xem nó như là một hiện tượng văn hóa và hơn cả là một vấn đề văn hóa, một nét đẹp văn hóa mới xuất hiện cần quan tâm. 
Cuối cùng, xin trích dẫn ý kiến của nhà báo Vũ Thụy Đăng Lan trong tác phẩm “ Chữ tâm trong nghệ thuật thư pháp”: Thư pháp là nghệ thuật viết chữ đẹp, ai cũng có thể viết được chữ, nhưng viết thế nào cho đẹp lại là một nghệ thuật. Mỗi nước có một ngôn ngữ một chữ viết riêng, cái đẹp của mỗi dân tộc tự nó có và cảm nhận khác nhau rất vô tư, nếu cứ đem ra mà tranh cãi, có khi lại chẳng còn là nghệ thuật nữa. Chúng ta không bao giờ quên rằng xuất xứ của bộ môn này từ Trung Quốc, nhưng, nếu cứ nhất định cho rằng chữ Hán đã sản sinh ra thư pháp, và chỉ độc nhất, thì cái thú tao nhã này đành phải lụi tàn theo văn học Hán Nôm đang mất dần trong nền văn học nước ta, thì không có gì đáng tiếc hơn. (…). Chung lại, chúng ta những người đang đam mê bộ môn nghệ thuật này là đang sống cho nhu cầu của chính mình, cho sự phát triển văn hóa xã hội hết sức lành mạnh và trí tuệ. Nếu đừng làm biến dạng nó, thì chẳng cần phải loanh quanh đi tìm câu trả lời “có hay không thư pháp chữ Việt”. Vì nó đã giải mã ở ngay đầu của mỗi ngọn bút….[ 53:71]

Trên, là những ý kiến đã được đăng tải trên báo chí. Riêng chúng tôi, thì cho rằng: đến thời điểm này, có thể khẳng định chữ  quốc ngữ có thư pháp, và hoàn toàn nhất trí với tên gọi “Thư pháp chữ Việt”. Với những lý do sau : 

------------------------------------------------------------------------------------------------


Về thuật ngữ “thư pháp” : Như ở chương I, đã trình bày về khái niệm thư pháp. Thì rõ ràng thư pháp không bao giờ là độc quyền của một hệ thống chữ viết nào. Chính họa sĩ Từ Băng (Trung Quốc) từng đến New York dạy cho người Mỹ viết thư pháp bằng tiếng Anh rất được hoan nghênh (vào năm 1966) [47:119]. Sở dĩ còn nhiều ý kiến chưa đồng tình một phần là do ở một số từ điển Việt Nam có định nghĩa thư pháp là “phép viết chữ Hán”, nên đã dẫn đến nhiều sự ngộ nhận. Mặt khác, “thư pháp” là thuật ngữ phương Đông (Trung quốc) ở đây có thể hiểu đồng nghĩa với nghệ thuật viết chữ “Calliraphy” của phương Tây. Nếu ta dùng nghệ thuật viết chữ Việt, có lẽ sẽ không có nhiều phản ứng, dư luận. Tuy nhiên do tiếng Việt hiện nay, có khoảng 70% từ vựng gốc Hán, do vậy ta mượn thuật ngữ “thư pháp” của tiếng Hán để chỉ một loại hình nghệ thuật viết chữ, là điều hợp lý.


------------------------------------------------------------------------------------------------


Về hình chữ : Nhìn chung bộ môn thư pháp thường lấy đường nét để tả hình, cây bút lông tạo được hàng loạt những biến tấu, nét móc, nét sổ, nét phẩy… điều đó liên quan đến văn tự Hán. Qua các nét bút thể hiện được các biến thái của cung bậc tình cảm. Lâu nay, nhiều người không đồng tình thư pháp chữ Việt ở chỗ do nó không phải là chữ tượng hình như chữ Hán. Tuy vậy ở chữ Latinh thực ra cũng có ưu thế trên. Nếu ta  tìm về nguồn gốc chữ viết, sẽ thấy chữ Latinh cũng xuất phát từ chữ tượng hình , cũng có những đường nét ý nghĩa như chữ Hán. Chỉ có cách viết, cách thể hiện là khác, do quá trình hình thành của nó, và do sự sáng tạo của người nghệ sĩ. Dù kết cấu về mặt hình chữ có khác nhau, nhưng chữ  Việt cũng có các nét ngang, đứng, nghiêng, móc, phẩy… Ví dụ như ở chữ Hán nếu ta lấy những chữ ít nét như  chữ Nhất (一), nhị (二), thập  (十) v.v. thì nó có một nét thẳng, một nét ngang, tương tự như chữ A , chữ H, chữ I, cũng gồm 3 nét thẳng, ngang kết hợp lại. Vì vậy, chữ quốc ngữ đâu đã cạn nguồn sáng tạo. Bất cứ ai có năng lực sẽ làm giàu đẹp cho văn hóa chữ. Bởi cái đẹp của chữ Latinh vốn đã thật uyển chuyển, hài hòa, ngay ngắn và cả sự bay bướm điệu đàng. Chữ Quốc ngữ tuy có dấu, điều đó gây khó khăn nhất định cho đường đi của đầu ngọn bút lông, nhưng cũng dễ tạo nét đẹp tuyệt vời nếu làm chủ được phương tiện, chất liệu sử dụng và có óc thẩm mỹ.


------------------------------------------------------------------------------------------------


Về phương pháp : Không như nhiều người nghĩ rằng “thư pháp chữ Việt” không có phương pháp, là những chữ viết xấu, khó đọc, muốn viết sao cũng được, nên không thể gọi là thư pháp. Sự thật, đây đó cũng có những chữ viết còn rất tùy tiện, mang tính “thị trường”, kém “chất lượng” gây phản cảm đối với người xem, người đọc thư pháp. Thiết nghĩ, đó cũng là quy luật, vì đây là bộ môn mới phát triển, đang trên đường định hình. Tuy nhiên, ở những tác phẩm thư pháp có giá trị, cũng như những nhà thư pháp lâu năm, thì  “thư pháp chữ Việt” có phương pháp hẳn hoi : về cách cầm bút, về bố cục, về kết cấu, hình thức. Dĩ nhiên những phương pháp này mang tính linh hoạt, không quá nguyên tắc, cứng rắn như thư pháp chữ Hán. Rõ nét nhất, nhiều quyển sách viết dạy về thư pháp gần đây đã đề cập đến phương pháp viết chữ, tuy mỗi tác giả có cách riêng của mình khi hướng dẫn (qua sách), nhưng cơ bản, “thư pháp chữ Việt” đang dần hướng đến quy cách, phương pháp chung.

------------------------------------------------------------------------------------------------


 Về nghệ thuật : “Thư pháp chữ Việt” cũng như thư pháp khác,  các nghệ nhân viết chữ Việt cũng thể hiện chữ viết theo cảm xúc nghệ thuật, họ viết bằng cả tâm hồn, các tác phẩm cũng có sức biến hóa sinh động, gợi mỹ cảm, có phong vị sâu sắc và có cá tính độc đáo. Chính nó tạo nên bản thể đích thực của thư pháp. Không ít tác phẩm thể hiện được tinh thần của người viết. Giữa người viết và người thưởng lãm cũng có sự liên thông cảm xúc, mà không cần một ngôn ngữ nào diễn giải, những vần thơ câu chữ khi được phóng bút mang trong nó sự yên tĩnh của tâm hồn. Người đọc có những rung cảm đồng điệu với người viết qua cách bố cục hài hòa chặt chẽ, qua đường nét bay bổng sáng tạo, qua nội dung sâu lắng. Dĩ nhiên, ở đây chỉ đề cập đến những tác phẩm có “hồn”. Không phải ngẫu nhiên nhà thơ, nhà thư pháp Trụ Vũ đã viết về“thư pháp chữ Việt”, thể hiện sự thần diệu nơi tâm hồn khi ông sáng tác :

Trăng sáng soi đầu bút
Ngọn bút óng tơ vàng
Ý mực còn chưa trút
Tình chữ đã mang mang

Những điều trên, cho thấy chữ Việt có đầy đủ những điều kiện,những yếu tố để có thể đi đến khẳng định đó là nghệ thuật thư pháp như chính tên gọi của nó. 

(Sưu Tầm)